Chị Nguyễn, 36 tuổi, chủ một hộ gia đình ở xã Lương Sơn, tỉnh Lào Cai không có ý định đầu tư vào các loại cây trồng có giá trị cao hơn dù biết rằng hiện nay đường sá được cải tạo, thuận lợi hơn nhiều cho việc trồng và bán sản phẩm. Chị giải thích rằng gần đây nhiều người nông dân địa phương có trồng keo nhưng họ phải mất vài năm mới thu hoạch được và bán lại cho các nhà máy giấy làm nguyên liệu đầu vào, nhưng chị không đợi được.

Chị Nguyễn nói: “Người giàu họ có nhiều tiền nên họ chờ được. Chúng tôi (là một hộ gia đình) chỉ có mức sống trung bình, chúng tôi không đủ sức đầu tư dài hạn và quy mô lớn vào nông nghiệp như những người có điều kiện hơn”.

Một quan niệm phổ biến cho rằng mọi đối tượng không phân biệt giới tính đều được hưởng lợi như nhau từ hệ thống đường sá chất lượng, nhưng với chị Nguyễn thì không phải là như vậy. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy, khi giao thông tốt hơn thì mở ra nhiều cơ hội kinh tế hơn, hoạt động y tế và giáo dục hiệu quả hơn góp phần giảm nghèo. Thế nhưng, không có nhiều nghiên cứu để trả lời câu hỏi ai là người thực sự được hưởng lợi khi hệ thống giao thông đươc cải thiện và kết nối tốt hơn.

Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Giao thông nông thôn 3, một dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ, đặt vấn đề ai sẽ được hưởng lợi từ hệ thống đường sá tốt hơn và tìm hiểu lý do tại sao một số nhóm vẫn bị bỏ lại phía sau. Đây là một trong những dự án giao thông nông thôn quy mô lớn ở Việt Nam, thực hiện cải tạo tới 3.100 km đường và bảo trì hơn 19.000 km đường giao thông nông thôn trải khắp 33 tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2015. Các nhà nghiên cứu đã kết hợp phân tích định lượng các số liệu điều tra quốc gia tiến hành với 509 hộ gia đình trong vùng dự án và phỏng vấn chuyên sâu và thảo luận nhóm tập trung ở ba tỉnh.

Nghiên cứu cho thấy lợi ích kinh tế được phân chia rõ rệt theo giới tính. Đường sá được cải thiện giúp thúc đẩy buôn bán nông sản cho tất cả mọi người, nhưng mức độ gia tăng ở các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới cao hơn đáng kể, thậm chí đến hơn hai lần. Đồng thời, sản lượng cây trồng cũng chỉ tăng ở các hộ do nam giới làm chủ.

Ethnic women working on a farm in Luong Son, Lao Cai Province.

Tại sao lại như vậy? Có một số nguyên nhân chính. Thứ nhất, các hộ gia đình có chủ hộ là phụ nữ thường bị hạn chế về số lượng lao động vì hầu hết trụ cột của những gia đình này là phụ nữ góa chồng hoặc phụ nữ độc thân. Một khi lao động còn được coi là đầu vào sản xuất chính thì bớt đi một người trong độ tuổi lao động đồng nghĩa với khó khăn tăng thêm trong việc tăng sản lượng trồng trọt.

Thứ hai, thu nhập mất đi do có ít lao động hơn có thể tạo ra rào cản tài chính khi họ muốn mở rộng sản xuất. Một gia đình có thể tăng quy mô sản xuất và /hoặc thu nhập bằng cách thuê máy móc để sản xuất và chuyên chở hàng hóa, hoặc chuyển đổi từ cây lúa sang các loại cây có giá trị cao hơn như keo, quế hoặc cam. Tuy nhiên, các chiến lược này đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn và phải mất vài tháng, thậm chí nhiều năm mới đem lại kết quả. Thông thường, các gia đình mà người phụ nữ phải đảm đương vai trò chủ hộ sẽ không có đủ vốn liếng và thời gian cần thiết.

Những phát hiện này cho thấy rằng nâng cấp đường là quan trọng nhưng có thể điều đó chưa đủ để cải thiện sinh kế cho tất cả mọi người dân nông thôn. Để cả hai giới có thể tận dụng đồng đều các cơ hội kinh tế mới tạo ra, cần có các chương trình bổ trợ cho phép mọi người tiết kiệm và vay vốn cũng như phát triển các kỹ năng kinh doanh cơ bản. Một dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á hỗ trợ phụ nữ địa phương tiếp cận cơ hội thu nhập mới đến từ con đường mới xây ở tỉnh Đồng Tháp cho thấy cách tiếp cận này có hiệu quả. Những phụ nữ được hỗ trợ đào tạo phát triển kinh doanh có thu nhập trung bình hàng tháng tăng 33%, còn những người được hỗ trợ tìm việc làm có thu nhập tăng hơn gấp đôi.

Về nguyên tắc, việc kết hợp đầu tư vào giao thông và các chương trình bổ trợ sẽ tạo ra tác động lớn hơn hẳn so với khi chúng được triển khai riêng lẻ. Những chương trình can thiệp đảm bảo rằng lợi ích đến từ những con đường mới sẽ đến được với nhiều người hơn, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Ngược lại, những con đường tốt là điều kiện cần để những can thiệp này được thực hiện thành công.

Trong thực tế, thách thức lớn nhất luôn nằm ở sự phối hợp. Các dự án đầu tư giao thông và tiếp cận tài chính hoặc các chương trình đào tạo kĩ năng kinh doanh thường do nhiều cơ quan quản lý, họ có thể không đủ chức năng hoặc thiếu động lực để phối hợp triển khai các chương trình này. Đây chính là lúc mà các tổ chức như Ngân hàng Thế giới có thể thể hiện vai trò bằng cách tạo các động lực và thúc đẩy phối hợp liên ngành trong các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn. Đây cũng là những dự án Ngân hàng Thế giới thường hỗ trợ thực hiện ở các nước đối tác.

Bài học kinh nghiệm

Ngân sách dành cho giao thông, một ngành phát triển trọng yếu, thường rất lớn, điều quan trọng là phải đảm bảo phân bổ công bằng các lợi ích mà các dự án giao thông đem lại, bắt đầu bằng ba cách:

  • Tìm hiểu xem ai là người được hoặc không được hưởng lợi từ việc cải tạo nâng cấp đường và tại sao: Xác định các hộ gia đình không thể tận dụng được lợi ích khi đường sá tốt hơn và cần lồng ghép nội dung về những khó khăn mà họ gặp phải vào trong thiết kế dự án.
  • Xác định các chương trình bổ trợ có thể tháo gỡ những vướng mắc khác của các hộ gia đình yếu thế hơn: Tạo điều kiện tiếp cận tín dụng và tổ chức đào tạo nâng cao kỹ năng có thể giúp giải quyết những khó khăn này.
  • Điều phối các chương trình cải tạo nâng cấp đường sá đi kèm với các can thiệp bổ sung: Các tổ chức phát triển như Ngân hàng Thế giới có thể thúc đẩy hoạt động điều phối liên ngành.

Để biết thêm thông tin chi tiết về đánh giá tác động của Dự án Giao thông nông thôn 3, hãy xem báo cáo dành cho công chúng và báo cáo kỹ thuật đầy đủ. Báo cáo này được thực hiện bởi Chương trình Nghiên cứu Đổi mới về Giới ở Đông Á và Thái Bình Dương (EAPGIL) dưới sự hỗ trợ của Quỹ Bảo vệ Bình đẳng Giới (Umbrella Facility for Gender Equality) phối hợp với Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia.